Đơn vị đồng hành
Truy cập: 19,842,885 lượt

Nhìn lại Hội Nhà văn Việt Nam sau gần 70 năm...

Những ngày gần đây, Hội Nhà văn Việt Nam (HNV) lại trở thành chủ đề của nhiều cuộc tranh luận. Có người nhìn từ một vụ việc cụ thể để phủ nhận vai trò của Hội. Cũng có người chỉ nhấn mạnh truyền thống mà né tránh những hạn chế.

Theo tôi, cả hai cách nhìn ấy đều chưa thật đầy đủ. Bởi lẽ, một thiết chế văn hóa gần 70 năm tuổi không thể được đánh giá chỉ bằng một sự kiện, cũng như không thể chỉ bằng một nhiệm kỳ hay một cá nhân. Muốn có cái nhìn công bằng, cần đặt nó trong toàn bộ tiến trình hình thành, phát triển, những đóng góp và cả những hạn chế của nó.

Muốn hiểu đúng về HNV trước hết cần trở lại với Điều lệ và lịch sử của Hội. Được thành lập ngày 04/4/1957, đến đầu năm 2026, HNV có 1.210 hội viên công tác trên khắp các lĩnh vực và mọi miền của Tổ quốc. Hội đã trải qua 10 kỳ Đại hội và đang chuẩn bị ĐH khóa XI.

Theo Điều lệ hiện hành, HNV là tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp của các nhà văn Việt Nam; hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam theo đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng; chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Nội vụ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng các cơ quan có liên quan theo quy định của pháp luật. Điều lệ của Hội do Đại hội thông qua và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Hội đồng thời là thành viên của Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Nhìn từ địa vị pháp lý và chức năng của mình, có thể xem HNV là một thiết chế quan trọng của đời sống văn học, văn hóa đất nước. Sứ mệnh của Hội không chỉ là tập hợp, đoàn kết đội ngũ những người cầm bút, mà còn phát huy tài năng sáng tạo để xây dựng nền văn học Việt Nam, góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Gần 70 năm qua, những đóng góp của Hội trước hết được tạo nên từ lao động sáng tạo, sự dấn thân và trách nhiệm công dân của nhiều thế hệ hội viên. Trong những năm tháng kháng chiến, nhiều nhà văn Việt Nam không chỉ cầm bút mà còn trực tiếp cầm súng. Họ bước vào chiến trường với tư cách nhữg người lính, những phóng viên, những người cầm bút cùng sống, cùng chiến đấu với đồng đội giữa bom đạn, trong chiến hào, trên đường hành quân và nơi tuyến lửa. Không ít người đã ngã xuống khi tuổi đời và trang viết còn dang dở. Có người để lại những tác phẩm đã hoàn thành, có người chỉ kịp để lại vài trang bản thảo. Sự hy sinh của họ đã nhập vào ký ức của đất nước, còn những trang viết để lại trở thành chứng tích tinh thần của một thời đại. Có những trang văn được viết bằng mực. Nhưng cũng có những trang văn được viết bằng chính cuộc đời của người cầm bút.

Hòa bình lập lại, đặc biệt từ công cuộc đổi mới, văn học Việt Nam bước vào một giai đoạn phát triển mới. Cùng với quá trình mở cửa và hội nhập, không gian sáng tạo được mở rộng, đời sống văn học trở nên đa dạng hơn, nhiều khuynh hướng nghệ thuật mới xuất hiện, giao lưu với văn học thế giới ngày càng sâu rộng. Quan trọng hơn, văn học đi sâu khám phá con người như một cá thể với tất cả những phức tạp của số phận, tâm lý và nhân cách; mạnh dạn nhìn lại lịch sử từ nhiều góc độ, đồng thời mở rộng phạm vi phản ánh tới nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội mà hoàn cảnh chiến tranh trước đây chưa có điều kiện thể hiện đầy đủ. Chính tinh thần tự nhận thức, đối thoại và không ngừng đổi mới ấy đã góp phần làm giàu thêm diện mạo của nền văn học Việt Nam hiện đại.

Tuy nhiên, mọi quá trình đổi mới đều không diễn ra trên một con đường bằng phẳng. Giữa truyền thống và hiện đại, giữa bản sắc dân tộc và ảnh hưởng từ bên ngoài, giữa tự do sáng tạo và trách nhiệm xã hội, văn học cũng có những tìm tòi, thử nghiệm; có những thành công nhưng cũng có những lúng túng, chập choạng, thậm chí có lúc đi quá giới hạn. Đó là điều khó tránh khỏi trong bất kỳ giai đoạn chuyển đổi nào. Điều quan trọng là từ những trải nghiệm ấy, nền văn học Việt Nam vẫn không ngừng tự điều chỉnh, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn học nhân loại, đồng thời giữ vững những giá trị cốt lõi của văn hóa và con người Việt Nam. Có thể nói, một trong những đóng góp lớn nhất của HNV là góp phần xây dựng nền văn học Việt Nam hiện đại và làm giàu đời sống tinh thần của dân tộc. Những đóng góp ấy không chỉ nằm trên giá sách.

 


 

Qua nhiều thế hệ, các hội viên của Hội đã góp phần giữ gìn và làm giàu tiếng Việt; sáng tạo nên nhiều tác phẩm trở thành tài sản tinh thần của đất nước; tham gia xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; bồi dưỡng tâm hồn, nhân cách và hệ giá trị của nhiều thế hệ người Việt Nam. Ít người để ý rằng, HNV còn có những đóng góp rất lớn đối với sự nghiệp giáo dục. Ngay từ khi nền giáo dục cách mạng được hình thành, tác phẩm của các hội viên đã trở thành một phần quan trọng của chương trình Ngữ văn trong nhà trường. Hàng chục triệu học sinh Việt Nam đã học tiếng Việt, học văn chương, học lịch sử, học lòng yêu nước và tình người qua chính những tác phẩm ấy. Không chỉ sáng tác, nhiều hội viên còn là dịch giả, nhà lý luận phê bình, nhà nghiên cứu, tác giả kịch bản sân khấu, điện ảnh và truyền hình. Thông qua dịch thuật, họ góp phần đưa tinh hoa văn học thế giới đến với bạn đọc Việt Nam và giới thiệu văn học Việt Nam ra nước ngoài.

Thông qua văn học và các tác phẩm chuyển thể, họ góp phần phản ánh hiện thực, đấu tranh với tham nhũng, quan liêu, lãng phí và các tệ nạn xã hội; cổ vũ cái đúng, phê phán cái sai, bồi đắp những giá trị chân, thiện, mỹ. Bằng cách ấy, văn học không chỉ phản ánh đời sống mà còn góp phần thanh lọc đời sống, bảo vệ những chuẩn mực xã hội và xây dựng con người.

Tất nhiên, cũng như bất kỳ thiết chế nào khác, HNV khg phải lúc nào cũng hoàn hảo. Trong từng giai đoạn phát triển, Hội và một số hội viên cũng có những thiếu sót, khuyết điểm; thậm chí có những sai phạm đã được các cơ quan có thẩm quyền kết luận và xử lý theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Sự việc vừa qua, khi người đứng đầu tổ chức đảng của Hội bị thi hành kỷ luật bằng hình thức cách tất cả các chức vụ trong Đảng, là một sự việc đặc biệt nghiêm trọng trong lịch sử gần bảy mươi năm của Hội. Đó là bài học sâu sắc về công tác xây dựng Đảng, xây dựng tổ chức, trách nhiệm của người đứng đầu và việc giữ gìn uy tín của Hội. Điều đó cần được nhìn nhận thẳng thắn, khách quan và cầu thị. Nhưng cũng chính vì vậy mà càng cần tránh một cách nhìn cực đoan. Không nên đồng nhất một cá nhân với cả một tổ chức; một nhiệm kỳ với gần 70 năm lịch sử của Hội; Và càng không nên lấy một khuyết điểm để phủ nhận những đóng góp của biết bao thế hệ nhà văn đã dành tài năng, trí tuệ, tâm huyết, thậm chí cả cuộc đời mình cho nền văn học và cho đất nước. Ngược lại, cũng không thể lấy những thành tựu để che lấp những hạn chế của hiện tại.

Lịch sử chưa bao giờ chỉ được viết bằng những thành công, nhưng cũng không chỉ được viết bằng những sai lầm. Giá trị của một thiết chế không nằm ở chỗ nó không bao giờ mắc khuyết điểm, mà ở khả năng biết kế thừa những gì đã làm được, dũng cảm nhìn thẳng vào những điều chưa làm được và không ngừng tự đổi mới để hoàn thành tốt hơn sứ mệnh của mình.

Tôi đã khá lưỡng lự khi viết những dòng này. Ban đầu, tôi nghĩ nên nhường những trao đổi như vậy cho các nhà văn lão thành, những người gắn bó lâu năm với Hội Nhà văn Việt Nam. Nhưng rồi tôi vẫn quyết định cầm bút, chỉ với mong muốn góp thêm một góc nhìn để mỗi chúng ta có thể nhìn nhận HNV và các hội viên của Hội một cách công bằng hơn: trân trọng những đóng góp đã được thời gian khẳng định, đồng thời thẳng thắn nhìn nhận những hạn chế để nghiêm túc rút kinh nghiệm, tiếp tục đổi mới và phát triển.

Trong những câu chuyện như thế này, điều cần nhất vẫn là sự bình tĩnh, khách quan và công bằng. Bởi mỗi nhận định về Hội Nhà văn Việt Nam khg chỉ liên quan đến một tổ chức, mà còn liên quan đến biết bao thế hệ nhà văn đã âm thầm cống hiến cho nền văn học nước nhà. Phê bình là cần thiết để thúc đẩy đổi mới, nhưng phê bình chỉ thực sự có ý nghĩa khi được xây dựng trên tinh thần tôn trọng sự thật, ghi nhận đầy đủ những giá trị đã có và hướng tới những điều tốt đẹp hơn.

P/S: Là hội viên HNVVN từ năm 2004; trước đó có gần 25 năm công tác trong lĩnh vực an ninh tư tưởng, văn hóa, và sau này vinh dự được tham gia hai khóa Hội đồng Văn học dịch của Hội, tôi có điều kiện theo dõi hoạt động của Hội qua nhiều nhiệm kỳ. Vì vậy, xin mạn phép chia sẻ đôi điều cùng bạn đọc với mong muốn góp thêm một góc nhìn cho cuộc trao đổi này.

04.8.2026

PHẠM VĂN BA

Top